Thơ - Đặc sắc

Sáng tạo khoa học kỹ thuật



Xem công văn hướng dẫn: tại đây
Tải công văn hưỡng dẫn: Tại đây

HIỂU THÊM VỀ TÂM SỰ YÊU NƯỚC CỦA NHÀ THƠ TÚ XƯƠNG

Thứ ba - 13/10/2015 21:31
Trần Tế Xương , tên thật là Trần Duy Uyên, đến khi thi hương mới đổi là Trần Cao Xương; tự Mặc Trai, hiệu Mộng tích; sinh ngày 5-9-1870 ở làng Vị Xuyên, huyện Mĩ Lộc, tỉnh Nam Định. Cụ thân sinh là Trần Duy Nhuận, một nhà nho nghèo. Cả cuộc đời của mình, Tú Xương dành cho thi cử (có tất cả 8 lần đi thi) nhưng chỉ duy nhất đỗ tú tài năm Giáp Ngọ (1894). Tú Xương qua đời ngày 29 -1- 1907 (tức rằm tháng chạp năm Bính Ngọ) do bị cảm khi về quê ăn giỗ ở quê ngoại, làng Đại Tứ, huyện Mĩ Lộc.
Dấu ấn thời đại của buổi “Mưa Âu gió Mĩ” in đậm trong các sáng tác của Trần Tế Xương. Tính thời sự trong thơ ông rõ nét. Những thay đổi về xã hội, văn hóa được Tú Xương “cập nhật” nhanh chóng. Nhắc tới Tú Xương, nhiều người nghĩ ngay đến những vần thơ trào phúng với bút pháp hiện thực sâu sắc. Song, một khía cạnh khác không kém đặc sắc làm nên giá trị thơ văn của thi sĩ Thành Nam – đó là mảng thơ trữ tình.
Thơ trữ tình của Tế Xương tập trung vào một số đề tài như: thảm trạng của đất nước, về người vợ tần tảo, về cuộc sống nghèo khổ, thiếu thốn của bản thân và gia đình. Đọc những vần thơ này, người ta thấy một tiếng lòng sâu lắng và nhận ra cái âm vang sâu xa của một tâm hồn giàu cảm xúc.
Viết về thực trạng đất nước, thơ Tú Xương một mặt phê phán sự xuống cấp của đạo đức, của đạo học; mặt khác người ta thấy nhà thơ Vị Hoàng luôn ẩn chứa niềm tâm sự u hoài khi chứng kiến sự đổi thay của sơn hà:
Sông kia rày đã nên đồng
Chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
                                                                                     (Sông lấp)
Bài thơ mở đầu bằng một sự thông báo, con sông Vị Hoàng thơ mộng đã không còn mà thay vào đó là “chỗ làm nhà cửa, chỗ trồng ngô khoai”, vật đổi sao rời, “thương hải biến vi tang điền ” (bãi bể biến thành ruộng dâu). Con sông Vị Hoàng xưa là nơi giao thương tấp nập, song từ khi thực dân Pháp xâm lược, chúng mở cảng Hải Phòng thì bến Vị Hoàng không còn được sử dụng, đất bồi lên thành “sông lấp”. Nhà thơ đau xót trước cảnh quê hương, đất nước bị giày xéo, đổi thay dưới gót giày thực dân.
Nỗi ưu tư, trăn trở, day dứt, bâng khuâng của tác giả càng nặng sâu hơn nữa trong hai câu kết bài thơ:
Vẳng nghe tiếng ếch bên tai
Giật mình còn tưởng tiếng ai gọi đò
“Vẳng nghe” để “giật mình”, âm thanh - một của hiện tại, một của những hoài niệm quá khứ… làm thức tỉnh những tấm lòng nhớ nước. Nỗi buồn ấy không phải chỉ buồn vì mất một dòng sông gắn bó mà lớn hơn là nỗi buồn mất nước. Nỗi niềm ấy cứ da diết, khắc khoải, thường trực để rồi như lúc nào cũng là tiếng gọi đò bên sông.
          Cũng vẫn là giọng thơ kín đáo mà sâu lắng, bài thơ Áo bông che bạn là một thi phẩm đa nghĩa. Có người cho đó là bài thơ viết về tình bạn, về tình yêu đôi lứa, có người cho rằng đó là tình yêu nước thiết tha mà Tế Xương gửi gắm trong một bài thơ trữ tình hết sức đậm đà, ý vị:
Ai ơi còn nhớ ai không,
Trời mưa một mảnh áo bông che đầu,
Nào ai có tiếc ai đâu,
Áo bông ai ướt, khăn đầu ai khô?
Người đi Tam Đảo, Ngũ Hồ,
Kẻ về khóc trúc than ngô một mình.
Non non, nước nước, tình tình,
Vì ai ngơ ngẩn cho mình ngẩn ngơ.
Câu thơ lục bát ngọt ngào, nhà thơ sử dụng đại từ “ai” thường thấy trong ca dao để chỉ mình, khi chỉ người yêu, tạo ra sự xoắn xuýt, lưu luyến, gắn bó...Những thành ngữ “Tam Đảo, Ngũ Hồ”, “khóc trúc than ngô” tạo ấn tượng về một cuộc chia ly không chỉ dừng lại ở phạm vi tình yêu đôi lứa, mà sâu xa hơn là giang sơn tổ quốc, câu thơ dễ khiến người đọc nhớ tới bài thơ Cuốc kêu cảm hứng nổi tiếng của Nguyễn Khuyến :
Khắc khoải sầu đưa giọng lửng lơ, 
Đây hồn Thục Đế thác bao giờ. 
Năm canh máu chảy đêm hè vắng, 
Sáu khắc hồn tan bóng nguyệt mờ. 
Có phải tiếc xuân mà đứng gọi? 
Hay là nhớ nước vẩn nằm mơ? 
Ban đêm ròng rã kêu ai đó? 
Giục khách giang hồ dạ ngẩn ngơ.
Cái “ngẩn ngơ” của những tâm hồn luôn trĩu nặng suy tư về đất nước, tiếng Cuốc (Quốc) cứ vang lên đầy ám ảnh, da diết!
Bài thơ Đêm hè của Tú Xương lại là một bức tranh tâm trạng rối bời về niềm tâm sự yêu nước thầm kín:
Trời không chớp bể chẳng mưa nguồn
Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
Bối rối tình duyên cơn gió thoảng
Nhạt nhèo quang cảnh bóng trăng suông
Khăn khăn, áo áo, thêm rầy chuyện
Bút bút, nghiên nghiên khéo giở tuồng
Ngủ quách sự đời thây kẻ thức
Chùa đâu chú trọc đã hồi chuông
Bài thơ mở đầu bằng lời tâm sự, bộc bạch “Đêm nảo đêm nao tớ cũng buồn
” cho dù không có cái cớ là tác động của ngoại cảnh. Tâm trạng “bối rối”, “nhạt nhèo” trước chiều kích rộng lớn của không gian vũ trụ và thời khắc tĩnh mịch, mênh mông của bóng đêm. Và, có cả lý do của danh phận nho sĩ cả đời lận đận chuyện thi cử trong hoàn cảnh éo le đất nước mất chủ quyền, đạo học xuống cấp.... muốn “Ngủ quách sự đời thây kẻ thức” nhưng tiếng chuông chùa bên vọng lại thì cũng là vừa lúc trời sáng. Câu kết bài thơ ẩn chứa nỗi niềm của một nhà nho lúc nào cũng trăn trở, đau đáu về thời cuộc.
 
Những bài thơ được viết theo kết cấu trữ tình như Áo bông che bạn, Đêm hè của Tú Xương là không nhiều (trong hơn một trăm bài thơ Nôm của ông và so với mảng thơ trào phúng lại càng ít phong phú hơn),  song người đọc vẫn nhận thấy ở nhà thơ Vị Hoàng một niềm tâm sự yêu nước thầm kín bằng một giọng thơ trữ tình sâu lắng, thiết tha, đậm đà phong vị ca dao.
 
 
                       

Tác giả bài viết: Tổ Văn - GDCD

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

LIÊN KẾT




Đang truy cậpĐang truy cập : 17


Hôm nayHôm nay : 2025

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 40444

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 1697568